Thứ Năm, 30 tháng 10, 2025
CHỦ ĐỀ ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG: THÔNG ĐIỆP VÀ KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC (Tác giả: Võ Văn Chỉ, Đoàn Trung Dũng)
Chủ đề Đại hội XIV của Đảng gửi đi thông điệp chính trị, tư tưởng lớn lao, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của Đảng và sức mạnh toàn dân tộc. Đó là hiệu triệu “chung sức, đồng lòng, tự chủ, tự cường, tự tin” để Việt Nam tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình, thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 và hiện thực hóa khát vọng hùng cường, thịnh vượng vào năm 2045.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng sẽ diễn ra trong bối cảnh đất nước đứng trước những thời cơ và thách thức đan xen, thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Đây là thời điểm đặc biệt có ý nghĩa: tổng kết 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nhìn lại chặng đường thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, đồng thời định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Chủ đề Đại hội XIV của Đảng, được nêu trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội, là sự khẳng định tầm nhìn chiến lược và ý chí chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong giai đoạn mới:
“Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.
Chủ đề trên không chỉ khẳng định tầm vóc lịch sử của Đại hội XIV mà còn gửi đi một thông điệp mạnh mẽ, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng, sánh vai cùng các cường quốc năm châu.
Chủ đề Đại hội XIV là sự kết tinh trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Nó thể hiện sự thống nhất cao về tư tưởng và hành động, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chủ đề vừa kế thừa tinh thần của các kỳ Đại hội trước, vừa mở ra tầm nhìn chiến lược mới. Đại hội XIII đã xác định mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đại hội XIV tiếp tục khẳng định những mục tiêu ấy, đồng thời bổ sung yếu tố “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh” như một thông điệp thời đại, thể hiện quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức để đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Chủ đề còn mang ý nghĩa hiệu triệu, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy sức mạnh nội lực, tận dụng thời cơ, đổi mới sáng tạo, vươn lên mạnh mẽ. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược gay gắt, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp, việc khẳng định tinh thần tự chủ, tự cường càng trở thành yếu tố sống còn.
Chủ đề khẳng định vị trí lịch sử đặc biệt của Đại hội XIV. Đây là Đại hội diễn ra sau 40 năm đổi mới, là dịp để tổng kết, đánh giá toàn diện những thành tựu và hạn chế của quá trình đổi mới; kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII; đồng thời hoạch định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ 5 năm, 10 năm tới, gắn với tầm nhìn đến năm 2045. Trong bối cảnh đất nước đứng trước vận hội và thách thức lớn, chủ đề Đại hội XIV phải thể hiện được ý chí, quyết tâm chính trị cao nhất của toàn Đảng và toàn dân.
Chủ đề không chỉ mang tính khái quát mà còn là lời hiệu triệu, có sức lay động và cổ vũ mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nuôi dưỡng khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng, sánh vai cùng các cường quốc năm châu.
Trên cơ sở kế thừa tinh thần các kỳ Đại hội trước, đặc biệt là Đại hội XIII, chủ đề Đại hội XIV đã bổ sung những nội dung mới: tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh. Đây là sự cụ thể hóa yêu cầu xây dựng một đất nước độc lập, tự chủ, vững vàng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội, đủ sức vượt qua mọi biến động của thời đại.
Thông điệp xuyên suốt mà Đại hội XIV truyền đi là Đảng và nhân dân Việt Nam quyết tâm xây dựng một đất nước độc lập, tự cường, phát triển nhanh và bền vững, tiến vững chắc trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội – khẳng định bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Chủ đề Đại hội XIV đặt ra yêu cầu “chung sức, đồng lòng”, nghĩa là phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, coi nhân dân vừa là chủ thể, vừa là động lực, đồng thời là mục tiêu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi các tầng lớp nhân dân cùng đồng thuận và hành động thống nhất, sức mạnh dân tộc sẽ được nhân lên gấp bội.
Đồng thời, chủ đề nhấn mạnh ba yếu tố gắn bó mật thiết: tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin. Tự chủ chiến lược thể hiện quyết tâm không phụ thuộc vào bất cứ thế lực nào, chủ động hoạch định đường lối phát triển. Tự cường phản ánh ý chí vươn lên bằng nội lực, dựa vào sức mình là chính, song vẫn linh hoạt tận dụng các nguồn lực quốc tế. Tự tin là tinh thần dám nghĩ, dám làm, bản lĩnh hội nhập, sẵn sàng đương đầu với mọi thử thách.
Cùng với đó, cụm từ “tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” khẳng định quyết tâm của Đảng và nhân dân ta không chỉ dừng lại ở duy trì phát triển, mà còn hướng đến bứt phá, vươn lên tầm cao mới. Đây là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, đồng thời phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Chủ đề Đại hội XIV đã khơi dậy khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng vào giữa thế kỷ XXI. Đó không chỉ là mục tiêu của Đảng, mà còn là nguyện vọng thiêng liêng của cả dân tộc, được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Đến năm 2030 kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, mục tiêu là đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045 kỷ niệm 100 năm thành lập nước, khát vọng là trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, sánh vai với các cường quốc năm châu.
Khát vọng đó không chỉ thể hiện ở các chỉ tiêu định lượng về kinh tế, mà còn ở chất lượng phát triển: xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; bảo đảm đời sống nhân dân ấm no, hạnh phúc; đất nước độc lập, hòa bình, hữu nghị, hội nhập quốc tế sâu rộng nhưng vẫn giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc. Để hiện thực hóa, Đảng ta nhấn mạnh phải phát huy cao độ nhân tố con người coi đây là trung tâm và là động lực quan trọng nhất. Sự gương mẫu, tâm huyết, tinh thần trách nhiệm và ý thức tự học, tự rèn luyện của cán bộ, đảng viên chính là yếu tố quyết định để biến lý luận thành hành động, biến nghị quyết thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội.
Chủ đề Đại hội XIV của Đảng là sự kết tinh của bản lĩnh, trí tuệ, khát vọng dân tộc và niềm tin vững chắc vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây không chỉ là định hướng chính trị cho giai đoạn 5 năm tới mà còn là lời hiệu triệu, khẳng định sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực tự cường và khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên mới. Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, với sự chung sức, đồng lòng của toàn dân tộc, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng những mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 sẽ được hiện thực hóa, đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, giàu mạnh, văn minh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu.
Tài liệu tham khảo
Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
Nguồn: Việt Nam Thịnh Vượng (2025), tại trang https://thinhvuongvietnam.com/Content/tu-chu-de-dai-hoi-xiv-cua-dang-thong-diep-va-khat-vong-phat-trien-dat-nuoc-24569
Khởi tạo “trái tim mới” của miền Tây trên vùng đất Chín Rồng (Tiến sĩ Kinh tế chính trị Huỳnh Hải Đăng Học viện Chính trị khu vực IV )
Sau sáp nhập với Hậu Giang và Sóc Trăng, Cần Thơ không chỉ mở rộng địa giới mà còn khởi tạo một “trái tim mới” cho miền Tây - nơi đất Chín Rồng hội tụ ba trụ cột kinh tế, kết nối hạ tầng chiến lược, dẫn dắt một mô hình tăng trưởng tích hợp, hiện đại và bền vững.
MỘT NHỊP ĐẬP PHỤC HỒI VÀ ĐƯỜNG CONG KỲ VỌNG MỚI
Giai đoạn 2020 - 2025 đánh dấu một hành trình đầy biến động nhưng cũng giàu kỳ vọng của ba địa phương Cần Thơ, Hậu Giang và Sóc Trăng. Dưới tác động kép của đại dịch Covid-19 và biến đổi khí hậu, nền kinh tế khu vực từng chững lại, nhưng đã nhanh chóng phục hồi và vươn lên mạnh mẽ, tạo nên một “đường cong tăng trưởng” ấn tượng.
Theo số liệu từ VCCI, trong hai năm đầu đại dịch, Cần Thơ ghi nhận mức tăng trưởng âm liên tiếp (-2,7% và -2,8%), phản ánh rõ nét sự tổn thương của một đô thị phụ thuộc vào dịch vụ và chuỗi cung ứng. Trong khi đó, Hậu Giang và Sóc Trăng với nền tảng nông nghiệp nên vẫn duy trì được mức tăng trưởng dương, cho thấy khả năng chống chịu tốt hơn trong khủng hoảng. Từ năm 2022, cả ba địa phương bước vào giai đoạn phục hồi mạnh mẽ. GRDP của Cần Thơ tăng vọt 12,64%, Hậu Giang đạt gần 14%, Sóc Trăng đạt 7,71%. Đến năm 2023, Hậu Giang tiếp tục dẫn đầu với 12,3%, trong khi Cần Thơ và Sóc Trăng cùng đạt 5,8%. Năm 2024 với đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì: Cần Thơ đạt 11,47%, Hậu Giang 8,76%, Sóc Trăng 7,07%.
Về tổng thể, bức tranh kinh tế địa phương không chỉ phản ánh sự phục hồi sau khủng hoảng mà còn mở ra kỳ vọng về một mô hình phát triển tích hợp - nơi các địa phương có thể bù trừ, hỗ trợ lẫn nhau để hình thành một cực tăng trưởng mới của ĐBSCL.
BA TRỤ CỘT - MỘT CẤU TRÚC KINH TẾ VÙNG ĐANG HÌNH THÀNH
Sau giai đoạn phục hồi mạnh mẽ, Cần Thơ, Hậu Giang và Sóc Trăng đang từng bước kiến tạo một cấu trúc kinh tế tích hợp - nơi mỗi địa phương đảm nhận vai trò chiến lược trong chuỗi giá trị Vùng. Ba trụ cột chính là nông nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ đang trở thành nền tảng cho một cực tăng trưởng mới của ĐBSCL.
Một góc đô thị TP Cần Thơ. Ảnh: Đăng Huỳnh.
Nông nghiệp - thủy sản là trụ cột đầu tiên, với sự phân công rõ ràng: Sóc Trăng dẫn đầu xuất khẩu thủy sản; Hậu Giang là vùng nguyên liệu nông nghiệp quy mô lớn; Cần Thơ giữ vai trò trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Mô hình liên kết này không chỉ nâng cao giá trị gia tăng mà còn thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế.
Công nghiệp chế biến là trụ cột thứ hai, hình thành dọc hành lang sông Hậu. Cần Thơ sở hữu 8 khu công nghiệp lớn với tỷ lệ lấp đầy trên 85%, tập trung vào chế biến thực phẩm và logistics. Hậu Giang phát triển mạnh khu công nghiệp Sông Hậu, trong khi Sóc Trăng quy hoạch khu công nghiệp Trần Đề gắn với cụm cảng biển. Đây là nền tảng cho chuỗi công nghiệp - cảng biển - xuất khẩu, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến.
Thương mại - dịch vụ - du lịch là trụ cột thứ ba, đang nổi lên như động lực tăng trưởng mới. Cần Thơ giữ vai trò trung tâm dịch vụ vùng với GRDP bình quân đầu người năm 2024 đạt hơn 104 triệu đồng. Hậu Giang và Sóc Trăng phát triển mạnh du lịch sinh thái, văn hóa Khmer và sản phẩm nông nghiệp bản địa, thu hút hơn 2,5 triệu lượt khách mỗi năm. Hạ tầng hỗ trợ như cảng Trần Đề, sân bay Cần Thơ và mạng lưới giao thông liên vùng đang tạo lực đẩy cho dịch vụ phát triển theo hướng hội nhập và chuyển đổi số.
Tổng thể, ba địa phương không chỉ “phân vai” mà còn “phối hợp” để hình thành một cấu trúc kinh tế vùng hiện đại, năng động và bền vững - nền tảng cho chiến lược phát triển tích hợp trong tương lai.
HẠ TẦNG VÀ LOGISTICS: MỞ LỐI CHO CỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI
Nếu tăng trưởng là nhịp đập của nền kinh tế thì hạ tầng và logistics chính là mạch máu kết nối các cực phát triển. Ba địa phương Cần Thơ, Hậu Giang và Sóc Trăng đang chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ về hạ tầng và logistics, từng bước hình thành trục kết nối chiến lược cho toàn vùng ĐBSCL.
Một góc đô thị tỉnh Sóc Trăng. Ảnh: Đăng Huỳnh.
Tâm điểm của trục này là cảng biển Trần Đề (Sóc Trăng) được quy hoạch là cảng đặc biệt cấp quốc gia có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải đến 160.000 tấn, đóng vai trò cửa ngõ xuất khẩu và trung tâm logistics biển của toàn Vùng. Đây là lợi thế chiến lược để phát triển kinh tế biển và công nghiệp hậu cần quy mô lớn.
Bổ trợ cho cảng biển là sân bay quốc tế Cần Thơ là trung tâm hàng không của Vùng, có công suất thiết kế 3-5 triệu lượt khách/năm. Bên cạnh đó, cao tốc Cần Thơ - Cà Mau đang được đẩy nhanh tiến độ và dự kiến hoàn thành vào năm 2026 sẽ kết nối trục Bắc - Nam của ĐBSCL. Cùng với đó là hệ thống quốc lộ QL1A, QL61C và mạng lưới sông ngòi, kênh rạch dày đặc, đang tạo nên một mạng giao thông đa phương thức, kết nối hiệu quả giữa vùng nguyên liệu, khu công nghiệp và trung tâm tiêu thụ.
Hạ tầng đồng bộ không chỉ phục vụ lưu thông hàng hóa mà còn là nền tảng xây dựng chuỗi giá trị sản xuất - chế biến - xuất khẩu liền mạch, đặc biệt trong các ngành chủ lực như nông sản, thủy sản, lương thực. Đồng thời, mở ra dư địa lớn cho thương mại, dịch vụ, đầu tư và hội nhập quốc tế.
Với tầm nhìn dài hạn, hạ tầng và logistics sẽ là “xương sống” để hình thành “Thành phố Cần Thơ mới” trở thành trung tâm kinh tế, logistics và đổi mới sáng tạo của toàn vùng ĐBSCL.
TƯ DUY MỚI, TẦM NHÌN MỚI, ĐỘNG LỰC MỚI
Sau sáp nhập, Cần Thơ không chỉ mở rộng về địa lý mà còn mở ra một không gian phát triển hoàn toàn mới - nơi hội tụ của đô thị, nông nghiệp, logistics và đổi mới sáng tạo. Trong kỷ nguyên chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thành phố cần một bản thiết kế chiến lược đủ tầm, đủ sâu và đủ linh hoạt để trở thành trung tâm kinh tế vùng kiểu mới - hiện đại, bền vững và có sức lan tỏa.
Khóm Cầu Đúc, Hậu Giang. Ảnh: Đăng Huỳnh.
Giai đoạn 2025 - 2030 là thời điểm bản lề để Cần Thơ chuyển mình từ một đô thị trung tâm hành chính sang vai trò trung tâm kinh tế tích hợp của toàn Vùng. Với lợi thế về công nghiệp chế biến, logistics, giáo dục và nghiên cứu, cùng sự bổ sung từ Hậu Giang và Sóc Trăng về nông nghiệp, thủy sản và văn hóa, Cần Thơ có đủ điều kiện để trở thành “đầu tàu” phát triển mới của miền Tây.
Tầm nhìn đến năm 2030, cần xây dựng Cần Thơ trở thành trung tâm kinh tế tổng hợp cấp vùng - hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh quốc tế. Đây không chỉ là mục tiêu phát triển mà là lời khẳng định vị thế mới của một thành phố đang vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên hội nhập.
“Bốn trụ cột - Bốn động lực” kiến tạo Cần Thơ mới gồm:
(1) Công nghiệp chế biến và logistics gắn với nông nghiệp công nghệ cao. Phát triển chuỗi giá trị khép kín từ vùng nguyên liệu (Hậu Giang), cụm chế biến (Sóc Trăng, Cần Thơ) đến hạ tầng xuất khẩu (cảng Trần Đề, sân bay Cần Thơ). Ưu tiên công nghệ sau thu hoạch, logistics lạnh và truy xuất nguồn gốc - để nông sản miền Tây “sạch và thông minh”.
(2) Kinh tế biển và dịch vụ cảng - logistics. Biến cụm cảng Trần Đề thành cửa ngõ giao thương quốc tế; phát triển trung tâm kho bãi, logistics và sàn giao dịch hàng hóa hiện đại cho ĐBSCL.
(3) Du lịch sinh thái - văn hóa - nông nghiệp. Khai thác bản sắc sông nước: chợ nổi, làng nghề, văn hóa Khmer, rừng ngập mặn. Phát triển du lịch cộng đồng, nghỉ dưỡng sinh thái, MICE và du lịch thông minh.
(4) Kinh tế số và đổi mới sáng tạo. Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp; thúc đẩy chuyển đổi số trong sản xuất, dịch vụ công, giáo dục, y tế và quản lý đô thị - hướng đến một Cần Thơ thông minh, hiện đại.
“CẦN THƠ MỚI”: TỪ KHÁT VỌNG ĐẾN HÀNH ĐỘNG
Sáp nhập địa giới không chỉ là sự thay đổi về bản đồ hành chính mà là cơ hội để tái định hình không gian phát triển Vùng. Với Cần Thơ - Hậu Giang - Sóc Trăng, đây là thời điểm vàng để “xây” một trung tâm kinh tế tích hợp, hiện đại và bền vững cho ĐBSCL.
Từ công nghiệp chế biến, logistics, du lịch đến kinh tế số, mỗi trụ cột phát triển đều cần được triển khai bằng tư duy chiến lược và hành động quyết liệt. Lộ trình 2025 - 2030 không chỉ là kế hoạch mà là cam kết: đưa Cần Thơ trở thành cực tăng trưởng mới, nơi hội tụ đổi mới, lan tỏa thịnh vượng.
Khát vọng đã có, cơ hội đang mở. Vấn đề còn lại là: chúng ta sẽ hành động như thế nào để biến “Cần Thơ mới” thành hình mẫu phát triển của Vùng trong kỷ nguyên hội nhập!
------------------
Nguồn: Báo Cần Thơ, tại trang https://baocantho.com.vn/khoi-tao-trai-tim-moi-cua-mien-tay-tren-vung-dat-chin-rong-a187362.html?gidzl=_I8BRSsjOqprFmXhmx9bG_is1cJLlMv2xJG3Oj-_FH2xObLbWhqvHBGrMctNlZ5DuZfQRZO0l5eGpAneI0
Tình cảm sâu đậm của bạn bè quốc tế (Phó Giáo sư, Tiến sĩ NGUYỄN VIẾT THẢO Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)
Tư tưởng và sự nghiệp cách mạng vĩ đại, tấm gương và ảnh hưởng mang tầm thời đại của Chủ tịch
Hồ Chí Minh là di sản quý báu và biểu tượng đặc sắc, đồng thời kết tinh thành
giá trị trong đời sống tinh thần của đông đảo nhân dân các dân tộc trên thế
giới. Sinh ra vào mùa sen nở năm 1890, lớn lên trong xứ thuộc địa An Nam, dấn
thân vào đời sống chính trị năm châu bốn biển trong suốt 30 năm bão táp cách
mạng của thế kỷ 20 (1911-1941), Hồ Chí Minh trở thành người cộng sản Việt Nam
đầu tiên; nhà lý luận Mác-Lênin kiên định và sáng tạo; người sáng lập Đảng Cộng
sản Việt Nam mở ra con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; lãnh tụ của
cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện đánh bại chiến tranh xâm lược của
cả chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc; người sáng lập nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, là nguồn cảm hứng đầy sinh lực cho các dân tộc Á, Phi, Mỹ Latinh vẽ
lại bản đồ thế giới từ sau năm 1945; biểu tượng trong sáng nhất của hòa bình,
hữu nghị, đoàn kết và hợp tác giữa các dân tộc trong thời đại mới; kết tinh của
văn hóa Đông-Tây như báo hiệu sự ra đời “một nền văn hóa của tương lai”(1). Hồ
Chí Minh là một trong những lãnh tụ cách mạng mà ngay từ rất sớm đã được hàng
triệu người trên thế giới biết đến. Người được ngưỡng mộ là “nhà mácxít-lêninnít
khiêm tốn nhất và triệt để nhất của thời đại chúng ta” (Fidel Castro); là “biểu
tượng của sự sáng suốt cộng sản chủ nghĩa ở châu Á” (R.Arismendi); là “nhà lãnh
đạo vĩ đại và kiên định” (Indira Gandi); là tấm gương lớn nhất về “sự toàn vẹn,
lòng nhân ái và tính khiêm tốn” (Salvador Agende)...(2). Là người dân của xứ
thuộc địa, Hồ Chí Minh thấu hiểu bản chất tàn bạo của chủ nghĩa thực dân và xót
xa trước nỗi khổ đau của mọi thân phận người bị áp bức trên toàn thế giới. Không
phân biệt mầu da và sắc tộc, đây là những người cùng khổ, cần đoàn kết lại trong
cuộc đấu tranh chung lật đổ chủ nghĩa thực dân. Với tình hữu ái “bốn phương vô
sản đều là anh em”, Hồ Chí Minh đã gay gắt phê phán một số đồng chí trong Quốc
tế Cộng sản không đánh giá đúng vấn đề thuộc địa và đã đầy bản lĩnh khẳng định
cách mạng vô sản hoàn toàn có khả năng nổ ra trước ở các nước thuộc địa, để rồi
tạo điều kiện cho công nhân và lao động ở các chính quốc tiến hành cách mạng
giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội. Ánh sáng trí tuệ và nhiệt huyết cách
mạng Hồ Chí Minh đã khiến nhà văn hóa Xô Viết nổi tiếng Osip Emilyevich
Mandelstam thốt lên từ năm 1923: “Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm
ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, thấy sự yên tĩnh mênh
mông của tình hữu ái toàn thế giới”(3). Khi nghe tin thực dân Pháp thất thủ ở
Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954, nhạc sĩ danh tiếng người Anh Ewan MacColl tự hỏi:
Tại sao lại ở Việt Nam? Ngay sau đó, ông tự trả lời: Vì ở đó có Hồ Chí Minh. Và
với cảm hứng ấy, nhạc sĩ viết ngay tuyệt phẩm Bài ca Hồ Chí Minh. Đến nay, Bài
ca Hồ Chí Minh đã được dịch ra bảy thứ tiếng trên thế giới, được đông đảo nhân
dân các dân tộc cùng hát vang trong những sự kiện lớn, nhất là trong các liên
hoan thanh niên, sinh viên trên thế giới. Nhạc sĩ Ewan MacColl đã đề tặng vào
bản nhạc những dòng chữ khắc họa tầm vóc vượt thời gian của hình tượng Hồ Chí
Minh: “Trên đời có những vật không thể thay đổi. Có những con chim không khuất
phục bao giờ. Có những con người sống mãi với thời gian: Hồ Chí Minh”(4). Hồ Chí
Minh là biểu tượng của nền hòa bình chân chính trong thời đại ngày nay, một nền
hòa bình gắn với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, dân chủ, bình đẳng và tiến
bộ xã hội. Đây là cội nguồn sức sống của tấm gương Hồ Chí Minh, giá trị của tư
tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống của nhân dân tiến bộ thế giới, đúng như đánh
giá của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba: Hồ Chí Minh thuộc những lớp
người đặc biệt mà cái chết đã gieo mầm cho sự sống và là nguồn cổ vũ đời đời bất
diệt. Đến nay, hơn 20 quốc gia trên thế giới đã xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh
với hàng chục công trình phong phú về ngôn ngữ kiến trúc và tầm vóc nhân vật.
Hàng trăm trường học, vườn hoa, công viên, đại lộ mang tên Người; trường đại học
của Venezuela đưa nội dung về đất nước và văn hóa Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh
vào giảng dạy. Đại học Tổng hợp Saint Petersburg (Liên bang Nga) có bộ phận
nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh toàn tập được dịch ra các thứ tiếng theo
đề nghị của bạn bè thế giới... Theo phóng viên Thông tấn xã Việt Nam, Thứ trưởng
Văn hóa Venezuela Alí Alejandro Primera cho biết, Chính phủ Venezuela đã chỉ đạo
các ban, ngành liên quan phối hợp chặt chẽ với Đại sứ quán Việt Nam để hoàn tất
các khâu chuẩn bị cuối cùng cho chương trình nghệ thuật “Mãi mãi Hồ Chí Minh”,
dự kiến sẽ được tổ chức tại Nhà hát Bolivar, thủ đô Caracas, vào ngày 21/5 tới.
Nhân dân các dân tộc trên thế giới trở về với Hồ Chí Minh hôm nay không chỉ để
tôn vinh một nhân vật mà “ngay từ lúc còn sống, đã trở thành một huyền thoại”,
đúng như nhận xét của ông Modagat Ahmed, Giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và
Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) khu vực châu Á-Thái Bình Dương(5). Sự trở về
với Hồ Chí Minh còn có ý nghĩa to lớn, hệ trọng hơn: góp phần tìm ra phương
hướng giải quyết các vấn đề của thế giới ngày nay là hòa bình, công lý, tự do,
hạnh phúc cho con người. Ông Romesh Chandra, Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới
đã giải thích sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho
độc lập, tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu
chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh
bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống đói nghèo,
ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”(6). Hôm qua, hôm nay và mai
sau, nhân dân các dân tộc trên thế giới tiếp tục ca ngợi Hồ Chí Minh như giá trị
tiêu biểu đại diện cho thời đại của giải phóng và phát triển. Tư tưởng Hồ Chí
Minh khích lệ nhân dân các dân tộc trong hành trình vươn tới một thế giới tốt
đẹp hơn, thế giới của hòa bình, độc lập, không còn đói nghèo, bất công, áp bức.
Bác Hồ là Việt Nam và Việt Nam là lương tâm, khí phách của thời đại chúng ta.
Nhà thơ Cuba Indio Naborí đã khái quát rất mực chuẩn xác: “Bác Hồ ơi/Ca ngợi
Người/Là bản anh hùng ca thời đại/Gọn gàng trong hai chữ VIỆT NAM!”(7). ---- (1)
https://baotanghochiminh.vn/nguyen-ai-quoc-gap-nha-tho-xoviet-oxip-mandenxtam-khi-dang-hoat-dong-o-lien-xo.htm
(2) Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại. Nxb. Lao động - Nxb. Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 1993 (3)
https://baotanghochiminh.vn/nguyen-ai-quoc-gap-nha-tho-xoviet-oxip-mandenxtam-khi-dang-hoat-dong-o-lien-xo.htm
(4)
https://baoxaydung.vn/ewan-maccoll-nguoi-sang-tac-bai-ca-ho-chi-minh-192147854.htm
(5)
https://hanoimoi.vn/nguoi-da-tro-thanh-huyen-thoai-ngay-tu-khi-con-song-534913.htm
(6) Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại. Nxb. Lao động - Nxb. Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 1993, tr.90 (7)
https://lamdong.gov.vn/sites/btg/hoc-tap-hcm/tai-lieu/SitePages/the-gioi-ca-ngoi-ho-chi-minh.aspx
----- Nguồn: Báo Nhân dân , tại trang
https://nhandan.vn/tinh-cam-sau-dam-cua-ban-be-quoc-te-post880331.html?gidzl=QbctE0ht1JjYHBG-1-45EcHCipeQwLK_B1RZR4coL3miIhSx7ky5FNX5ipyOl0HhBaFdEsPGdO0o2_OEFm&fbclid=IwY2xjawNvoZFleHRuA2FlbQIxMQABHpDDcBMhebgsJ48SVDzBneHbpA5RhOmbUrFoEUTeMd9i4du8ryHuPsEXX7y9_aem_HrWNk5fc0Yt7tLwQu570cw
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)