TƯ TƯỞNG CỦA V.I.LÊNIN VỀ TÔN GIÁO TRONG THỰC TIỄN VIỆT NAM HIỆN NAY
Lê Văn Lợi
Để tiếp tục đổi mới chính sách về tôn giáo
trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc nghiên cứu, tiếp thu những giá trị tiến
bộ trong các lý luận đương đại về tôn giáo, những giá trị phổ quát của nhân
loại đạt được trong pháp luật quốc tế về quyền con người, điều cốt yếu nhất là
phải tiếp tục nghiên cứu để quán triệt sâu sắc hơn quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, quan điểm của Lênin nói riêng về tôn
giáo.
|
Cũng như C.Mác và Ph.Ănghen, V.I.Lênin nghiên
cứu tôn giáo không phải vì mục đích tự thân, không nhằm xây dựng một hệ thống
lý luận “thuần túy” về tôn giáo mà do những đòi hỏi đặt ra từ thực tiễn của
phong trào cách mạng. Bối cảnh nước Nga vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX rất đặc biệt: trong khi CNTB đang chuyển sang giai đoạn phát triển đế
quốc chủ nghĩa thì nước Nga lúc đó mới chỉ là nước tư bản có trình độ phát
triển trung bình, song chế độ thống trị hết sức thối nát; giai cấp tư sản cấu kết
chặt chẽ với giai cấp địa chủ phong kiến bóc lột nhân dân thậm tệ và sử dụng
đạo Chính Thống để kìm kẹp, nô dịch tinh thần quần chúng nhân dân. Run sợ trước
phong trào cách mạng đang ngày một dâng cao, các thế lực phản động tìm cách lôi
kéo, kích động các hoạt động tôn giáo nhằm đánh lạc hướng quần chúng, khiến họ
xao nhãng với cuộc đấu tranh giành quyền tự do, dân chủ. Lênin đã chỉ rõ âm mưu
của các thế lực phản động: “Khắp nơi bọn tư bản phản động đã chú trọng, và ở
nước ta hiện nay chúng cũng bắt đầu chú trọng khêu lên những sự hằn thù tôn
giáo, để làm cho quần chúng chú ý về phía đó, khiến cho họ không để ý đến vấn
đề chính trị và kinh tế thật sự quan trọng và chủ yếu”(1). Bên cạnh âm mưu thủ
đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực phản động, sự hoang mang, dao động của
một bộ phận người tham gia sau thất bại của cuộc cách mạng 1905 đã làm xuất
hiện trào lưu “tìm thần”, “tạo thần”, muốn kết hợp giữa CNXH khoa học với niềm
tin tôn giáo, coi CNXH là một loại tôn giáo. Các trào lưu “tìm thần”, “tạo
thần” gây tác hại lớn cho phong trào cách mạng, làm cho quần chúng mất phương
hướng. Lênin chỉ rõ các trào lưu này là một dạng biện hộ cho thế lực phản động,
là “độc tố ngọt ngào nhất và được che đậy khéo léo nhất trong những viên kẹo
bọc bằng đủ loại giấy màu sặc sỡ”(2), khiến quần chúng nhân dân bị mê muội và
cam chịu ách áp bức, bóc lột. Ngay trong Đảng Dân chủ - Xã hội Nga cũng đã xuất
hiện các quan niệm “hữu khuynh”, “tả khuynh” và cơ hội, muốn thỏa hiệp với tôn
giáo. Trong bối cảnh đó, Lênin đã tích cực truyền bá và đấu tranh nhằm khẳng
định tính khoa học của các quan điểm của C.Mác, Ph.Ănghen về tôn giáo. Người đã
viết nhiều bài về tôn giáo như: Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo; Về thái độ của
đảng công nhân đối với tôn giáo; Thái độ của giai cấp và của các đảng phái đối
với tôn giáo, v.v.. trong đó Người đã luận giải, làm sâu sắc thêm nhiều khía
cạnh liên quan đến vấn đề tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo.
Kế thừa các quan điểm của C.Mác và Ph.Ănghen về bản chất, nguồn
gốc tôn giáo, Lênin đã phân tích, làm rõ hơn nguồn gốc kinh tế - xã hội và
nguồn gốc nhận thức của tôn giáo. Theo Người, “Nguồn gốc sâu xa nhất của các
thành kiến tôn giáo là cùng khổ và dốt nát”(3); cụ thể hơn, “sự áp bức đối với
quần chúng lao động về mặt xã hội, tình trạng có vẻ hoàn toàn bất lực của họ
trước những thế lực mù quáng của chủ nghĩa tư bản đang hàng ngày hàng giờ gây
ra cho những người lao động bình thường những nỗi khổ cực kỳ ghê gớm, những sự
đau thương thật là khủng khiếp, nhiều gấp nghìn lần so với những biến cố phi
thường như chiến tranh, động đất, v.v.. đó là nguồn gốc sâu xa nhất hiện nay
của tôn giáo”(4).
Phản bác lại quan niệm của những người theo
thuyết “tạo thần” rằng “thần” là phức hợp ý niệm làm thức tỉnh và tổ chức những
tình cảm xã hội, Người chỉ rõ, “Thần (về mặt lịch sử và sinh hoạt) thì trước
hết là một phức hợp những ý niệm được sản sinh ra bởi tình trạng con người chịu
đè nén một cách ngoan ngoãn, bởi giới tự nhiên bên ngoài và ách áp bức giai
cấp, tức là một phức hợp những ý niệm ghi nhận sự đè nén đó và xoa dịu cuộc đấu
tranh giai cấp”(5).
Về nguồn gốc nhận thức của tôn giáo, Lênin đã
chỉ rõ khả năng xuất hiện của tôn giáo nằm ngay trong đặc điểm nhận thức của
con người. Người viết: “Sự phân đôi của nhận thức của con người và tính khả
năng của chủ nghĩa duy tâm (của tôn giáo) đã có trong cái trừu tượng đầu tiên,
tối sơ “cái nhà” nói chung và những cái nhà cá biệt”(6). Nếu C.Mác, Ph.Ăngghen
đã phân tích làm rõ ý thức tôn giáo là sự phản ánh vào đấu óc con người
những “lực lượng bên ngoài” thì Lênin lại luận giải, làm rõ hơn “cơ chế”
hình thành tôn giáo ngay trong phép biện chứng của quá trình nhận thức.
Lênin đã vạch rõ tác hại của tôn giáo khi bị
các thế lực phản động lợi dụng làm công cụ áp bức tinh thần quần chúng và củng
cố địa vị thống trị của chúng. Người khẳng định “Phơ bách đã trả lời hết sức
đúng những kẻ bênh vực tôn giáo, cho đó là nguồn “an ủi” con người, rằng an ủi
con người nô lệ thì có lợi cho chủ nô; còn người bạn chân chính của nô lệ là
người dạy cho họ biết phẫn nộ, biết vùng dậy, biết đánh đổ áp bức chứ tuyệt đối
không “an ủi” họ”(7).
Phê phán tôn giáo với tư cách công cụ nô dịch
tinh thần của giai cấp thống trị, song Lênin kiên trì với quan điểm không tuyên
chiến với tôn giáo, thay vào đó, Người đề ra những nguyên tắc, phương pháp đúng
đắn để giải quyết vấn đề tôn giáo, vừa hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo,
vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân. Theo Người, để tôn giáo không
còn là công cụ thống trị giai cấp, giai cấp vô sản phải “làm cho tôn giáo thực
sự trở thành một việc tư nhân đối với nhà nước”(8). Thực hiện tư tưởng đó, sau
thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chính quyền đã về tay nhân dân, Người đã ký
sắc luật “Về việc tách giáo hội khỏi nhà nước, trường học ra khỏi nhà thờ”.
Lênin cho rằng, “phải trừ bỏ triệt để những mối liên hệ giữa một bên là các
giai cấp bóc lột, tức bọn địa chủ và bọn tư sản, với một bên là tổ chức tuyên
truyền tôn giáo là những mối liên hệ nhằm giữ quần chúng trong vòng ngu
muội”(9). Người khẳng định rõ, tôn giáo là việc tư nhân đối với nhà nước, có nghĩa
là nhà nước không được bao cấp cho tôn giáo, không được sử dụng tôn giáo như bộ
máy nối dài để thống trị, còn đối với chính đảng của giai cấp vô sản, tôn giáo
không phải là việc tư nhân. Bởi vậy, Đảng cần tiến hành cuộc đấu tranh khắc
phục mặt tiêu cực của tôn giáo thông qua tuyên truyền, giáo dục quần chúng.
Người nhắc nhở: “Đấu tranh chống các thành kiến tôn giáo phải cực kỳ thận
trọng; trong cuộc đấu tranh này, ai làm tổn hại đến tình cảm tôn giáo,
người đó sẽ gây thiệt hại lớn. Cần phải đấu tranh bằng tuyên truyền, bằng giáo
dục. Nếu hành động thô bạo, chúng ta sẽ làm cho quần chúng tức giận; hành động
như vậy sẽ càng gây thêm sự chia rẽ trong quần chúng về vấn đề tôn giáo, mà sức
mạnh của chúng ta là ở sự đoàn kết”(10). Theo Người, cuộc đấu tranh đó chỉ có
kết quả khi chính đảng của giai cấp vô sản đoàn kết, lôi cuốn được quần chúng
nhân dân vào công cuộc xây dựng xã hội mới.
Trong vấn đề tự do tín ngưỡng, Lênin không
những kiên định với quan điểm của C.Mác, Ph.Ănghen mà còn hiện thực hóa quan
điểm đó trong thực tế. Sau Cách mạng Tháng Mười, quyền tự do tín ngưỡng tôn
giáo và không tín ngưỡng tôn giáo đã được ghi rõ trong Hiến pháp của nước Nga
mới. Phát biểu trong Hội nghị Các đại biểu ngoài đảng ngày 26-12-2021, Người
nhấn mạnh “theo Hiến pháp của chúng ta, theo đạo luật cơ bản của nước Cộng hòa
chúng ta thì quyền tự do tín ngưỡng về tôn giáo đã được tuyệt đối bảo đảm cho
mọi người”(11).
Nhằm đáp ứng những đòi hỏi đặt ra từ thực tiễn
xây dựng Đảng cầm quyền, Lênin đã nêu những luận điểm có tính đột phá trong vấn
đề kết nạp đảng viên là chức sắc, nhà tu hành tôn giáo. Người cho rằng, không
nên cứng nhắc khi tuyên bố một linh mục có thể hay không thể vào Đảng.
Người chỉ rõ: “Nếu có linh mục nào đó cùng đi với chúng ta để cùng hoạt động
chính trị, tận tâm làm tròn nhiệm vụ của mình trong đảng và không chống lại
cương lĩnh của đảng, thì chúng ta có thể kết nạp người ấy vào hàng ngũ của Đảng
Dân chủ - Xã hội”(12).
Như vậy, Lênin đã luận giải, làm sâu sắc thêm,
cụ thể hóa nhiều vấn đề liên quan đến tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo
trong chế độ mới, qua đó phát triển lý luận mác xít về tôn giáo lên một tầm mức
mới. Nhờ vậy, Người đã giải quyết thành công vấn đề tôn giáo trong quá trình
cách mạng, tập hợp, đoàn kết được đông đảo quần chúng có tôn giáo xung quanh
đảng; hạn chế những tác động tiêu cực của các thành kiến tôn giáo; vô hiệu hóa
sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch, góp phần vào thắng lợi của cách
mạng. Mặc dù do bối cảnh và điều kiện lịch sử, Lênin chưa đi sâu bàn về thiết
chế, cơ chế bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, chưa có điều kiện làm rõ những đóng
góp của tôn giáo về văn hóa, đạo đức,... nhưng quan điểm của Người về tôn giáo
có giá trị khoa học và nhân văn sâu sắc, cùng với lý luận của C.Mác,
Ph.Ăngghen, trở thành cơ sở lý luận cho Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra và thực
hiện chính sách đúng đắn đối với tôn giáo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam
đã vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo vào điều
kiện cụ thể của Việt Nam, đem lại những thành quả to lớn trong giải quyết vấn
đề tôn giáo. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
ta đã đề ra chính sách tôn giáo với những nội dung như: tôn trọng tự do tín
ngưỡng, đoàn kết lương - giáo, đoàn kết toàn dân; bảo đảm mọi công dân đều bình
đẳng, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo, giúp đồng bào
“phần xác được ấm no, phần hồn được thong dong”; phát huy tinh thần yêu nước,
khích lệ, biểu dương những tấm gương sống “tốt đời, đẹp đạo” trong các chức
sắc, nhà tu hành và tín đồ tôn giáo; kiên quyết đấu tranh chống mê tín dị đoan
và sự lợi dụng tôn giáo vào mục đích xấu. Chính sách đúng đắn đó đã có tác dụng
to lớn trong đoàn kết dân tộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp bảo đảm cho sự thắng
lợi của cách mạng. Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX đã có sự tổng kết cô
đọng: “Trong cách mạng dân tộc dân chủ, chính sách “tín ngưỡng tự do, lương
giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào sự nghiệp
đoàn kết toàn dân kháng chiến thắng lợi, giành độc lập thống nhất hoàn toàn cho
đất nước”(13).
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, trên cơ sở vận
dụng trung thành và sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
và Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo, Đảng ta đã có sự đổi mới tư duy về tôn
giáo, tạo bước đột phá trong chính sách đối với tôn giáo. Đảng khẳng định, tôn
giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; đang và sẽ tồn tại cùng dân
tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; Đảng và Nhà nước thực
hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy những giá trị văn
hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo, gìn giữ và phát huy những giá trị tích cực
của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc, với
nhân dân. Đảng cũng khẳng định, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công
tác vận động quần chúng, lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp
chung. Điều đó thể hiện bước chuyển nhận thức của Đảng từ chỗ xem tôn giáo chỉ
là phạm trù chính trị đơn thuần sang nhìn nhận tôn giáo còn là phạm trù dân
vận, phạm trù văn hóa. Cùng với những quan điểm thể hiện sự đổi mới tư duy về
tôn giáo, Đảng còn đề ra nhiệm vụ cụ thể cho công tác tôn giáo và các giải pháp
chủ yếu để thực hiện tốt công tác tôn giáo như: tập trung nâng cao nhận thức,
thống nhất quan điểm, trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội về vấn
đề tôn giáo; tăng cường công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chính
trị ở cơ sở; tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo; tăng cường công tác tổ
chức, cán bộ làm công tác tôn giáo...
Chính sách tôn giáo của Đảng trong thời kỳ đổi
mới đã mang lại những kết quả tốt đẹp. Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo được bảo
đảm và thực hiện ngày càng đầy đủ; khối đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng
cường. Tình hình tôn giáo cơ bản ổn định, hoạt động tôn giáo dần đi vào nền
nếp, nhìn chung tuân thủ pháp luật. Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo được
tăng cường, hệ thống pháp luật, thể chế quản lý nhà nước về tôn giáo ngày càng
được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo
của đồng bào có đạo, đồng thời bảo đảm xử lý, ngăn chặn kịp thời các hoạt động
lợi dụng tôn giáo để chống phá đất nước.
Sau gần 30 năm đổi mới
đất nước, diện mạo các vùng có đông đồng bào có đạo đã có sự thay đổi căn bản
theo hướng CNH, HĐH. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo không
ngừng tăng lên; cơ sở thờ tự tôn giáo được tạo điều kiện tôn tạo, sửa chữa, xây
dựng mới khang trang, lộng lẫy; kinh sách tôn giáo được xuất bản đầy đủ; sinh
hoạt tôn giáo của đồng bào nhộn nhịp; các lễ hội tôn giáo được tiến hành trang
trọng, bảo đảm an ninh, trật tự. Đồng bào có đạo phấn khởi, tích cực tham gia
vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, phong trào văn hóa, xã hội, các
hoạt động nhân đạo, từ thiện.
Tuy nhiên, trong giai
đoạn hiện nay, tình hình tôn giáo cũng có những diến biến phức tạp, tiềm ẩn
những nhân tố gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đồng thời, sự
nghiệp đổi mới hiện nay cũng đang đặt ra yêu cầu phải phát huy tối đa sức mạnh
đại đoàn kết dân tộc, khai thác mọi tiềm năng, mọi nguồn lực để phục vụ cho
công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Bởi vậy, trong lĩnh vực công tác tôn
giáo, cần tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo
để góp phần hạn chế các trở lực và tạo xung lực mới cho công cuộc đổi mới đất
nước.
Để tiếp tục đổi mới chính sách về tôn giáo
trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc nghiên cứu, tiếp thu những giá trị tiến
bộ trong các lý luận đương đại về tôn giáo, những giá trị phổ quát của nhân
loại đạt được trong pháp luật quốc tế về quyền con người, điều cốt yếu nhất là
phải tiếp tục nghiên cứu để quán triệt sâu sắc hơn quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, quan điểm của Lênin nói riêng về tôn
giáo. Trong việc vận dụng quan điểm của Lênin về tôn giáo cần chú ý một số vấn
đề sau đây:
Một là, cần nghiên cứu, quán triệt sâu sắc hơn những nguyên tắc
mang tính phương pháp luận mà Lênin đã đề ra trong giải quyết vấn đề tôn giáo.
Đương thời, trên cơ sở vận dụng sáng tạo quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về tôn
giáo vào thực tiễn nước Nga, Lênin đã bổ sung, hoàn thiện những nguyên tắc mác
xít để giải quyết vấn đề tôn giáo trong quá trình xây dựng CNXH: khắc phục dần
mặt tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã
hội; tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; phân
biệt giữa nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng nhân dân và sự lợi dụng
tôn giáo vào mục đích xấu; giải quyết tôn giáo phải có quan điểm lịch sử, cụ
thể. Do nhiều lý do, một số cán bộ, đảng viên có nhận thức chưa đúng hoặc thực
hiện chưa đầy đủ những nguyên tắc này trong thực tế. Do vậy, cần nghiên cứu,
làm rõ nội dung cụ thể từng nguyên tắc cũng như mối liên hệ hữu cơ giữa các
nguyên tắc nêu trên, từ đó quán triệt sâu rộng trong toàn đội ngũ cán bộ, đảng
viên, giúp họ hiểu đúng và thực hiện đầy đủ.
Hai là, cần học tập cách Lênin vận dụng sáng tạo lý luận của
C.Mác, Ph.Ănghen về tôn giáo để giải quyết vấn đề này. Tình hình thế giới và
điều kiện của Việt Nam hiện nay khác xa so với bối cảnh lịch sử của thế giới và
nước Nga thời Lênin, bởi vậy, nếu chỉ “tầm chương”, “trích cú”, áp dụng cứng
nhắc từng luận điểm cụ thể của Lênin về tôn giáo mà bỏ qua hoàn cảnh lịch sử,
cụ thể tức là đã đi ngược lại quan điểm biện chứng và do đó, dẫn tới sai lầm
trong giải quyết vấn đề thực tế. Bởi vậy, vận dụng quan điểm của Người về tôn
giáo cần căn cứ vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, căn cứ vào tình hình tôn
giáo cụ thể để đề ra chính sách, giải pháp giải quyết cho phù hợp, bảo đảm góp
phần tạo động lực cho công cuộc đổi mới đất nước.
Ba là, đối với những vấn đề cụ thể đang có sự thiếu thống nhất
nhận thức hoặc vướng mắc giữa lý luận và thực tiễn công tác tôn giáo, cần
nghiên cứu để có sự nhận thức sâu sắc hơn, toàn diện hơn về quan điểm của các
nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề đó; cần xem xét sự vận dụng
đã thật sự đúng đắn, sáng tạo hay còn mang tính máy móc, giáo điều. Chẳng hạn,
trước đây, nhiều người cho rằng đảng viên có đạo không được tham gia sinh hoạt
tôn giáo, nhất là không được thực hiện các nghi lễ tôn giáo. Họ cho rằng, quy
định như vậy là phù hợp với quan điểm của Lênin. Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ quan
điểm của Lênin về vấn đề này có thể thấy, Người chỉ không cho phép đảng viên có
đạo tuyên truyền tôn giáo trong nội bộ tổ chức đảng mà thôi, còn việc sinh hoạt
tôn giáo là việc riêng của đảng viên đó, miễn sao họ tuân thủ cương lĩnh, điều
lệ đảng. Hay hiện nay, trước hiện tượng có nhiều “đạo lạ” xuất hiện và trong số
đó có không ít hiện tượng phi nhân tính, phản nhân văn, một số người cho rằng
cần xem tất cả hiện tượng tôn giáo mới là “tà đạo” và phải ngăn cấm triệt để.
Tuy nhiên, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo có nguồn gốc từ
hiện thực và nó ra đời là đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân, vì vậy, không
thể đơn giản quy toàn bộ hiện tượng tôn giáo mới là “tà đạo”, càng không thể
giải quyết triệt để bằng biện pháp hành chính. Qua đó có thể thấy rằng, vận
dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo phải trên cơ sở có sự nhận
thức đúng đắn với tư duy đổi mới thì mới mang lại tác dụng thiết thực trong
giải quyết vấn đề tôn giáo.
Bốn là, cùng với việc vận dụng quan điểm của Lênin về tôn giáo,
cần nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo
cho phù hợp với bối cảnh của thời đại và yêu cầu của công cuộc đổi mới đất
nước. Muốn vậy, cùng với việc đào sâu nhận thức về các quan điểm của Người về
tôn giáo, trên cơ sở giữ vững lập trường và phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, cần nghiên cứu để tiếp thu có phê phán các
thành tựu đương đại trong lĩnh vực nghiên cứu tôn giáo. Đồng thời, thường xuyên
có sự tổng kết thực tiễn, một mặt đánh giá sự vận dụng lý luận về tôn giáo
trong thực tiễn, mặt khác đúc kết, bổ sung những quan điểm mới, góc nhìn mới về
tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi
mới đất nước.
-------------------------------
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số
4-2015
(1), (8) V.I.Lênin: Toàn tập, t.12, Nxb Tiến
bộ, Mátxcơva, 1979, tr.171, 175.
(2), (5) Sđd, t.48, tr.294, 300-301.
(3), (10) Sđd, t.37, tr.221, 221.
(4), (12) Sđd, t.17, tr.551, 519.
(6) Sđd, t.29, tr.394.
(7), (9) Sđd, t.36, tr.162, 162.
(11) Sđd, t.44, tr.410.
(13) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban
Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.45.
Nguồn:http://tcnn.vn/news/detail/32884/Tu_tuong_cua_V_I_Lenin_ve_ton_giao
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.